Góp phần khẳng định giá trị di sản phi vật thể chè Thái Nguyên
Cây chè tồn tại trên vùng đất Thái Nguyên đã có từ rất lâu đời. Trong thư tịch cổ, cây chè với tư cách là sản vật địa phương danh tiếng được ghi chép rõ nét trong bộ bách khoa địa chí Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào nửa cuối thế kỷ XIX. Các tài liệu cũng khẳng định vị thế ưu việt về chất lượng của chè Thái Nguyên. Trải qua quá trình lịch sử, chè Thái Nguyên được công nhận là sản vật quốc gia thượng hạng, mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Hiện nay, cây chè được xác định là một trong những cây trồng nền tảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, tạo ra giá trị gia tăng cao, đồng thời mang giá trị định vị văn hóa và thương hiệu quan trọng đối với tỉnh Thái Nguyên.

Toàn cảnh vùng chè La Bằng
Theo kết quả khảo sát của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, toàn tỉnh có gần 24.000 ha chè, trong đó diện tích đang cho thu hoạch ổn định đạt khoảng 23.000 ha, cung cấp sản lượng chè búp tươi ước đạt 280.000 tấn/năm. Nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Đài Loan. Tri thức trồng và chế biến chè, cùng các thực hành di sản, được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh, tiêu biểu là 5 vùng chè trọng điểm thường được gọi là “Ngũ đại danh trà”, gồm: Tân Cương, La Bằng, Khe Cốc (Vô Tranh, Phú Lương), Trại Cài (Đồng Hỷ, Vân Lăng) và Đồng Phúc. Đây chính là những không gian chiến lược được tỉnh Thái Nguyên sử dụng làm cơ sở xây dựng các chương trình phát triển thương hiệu, du lịch sinh thái nông nghiệp, mở rộng mô hình sản xuất hữu cơ và quảng bá văn hóa trà trên bình diện quốc tế.
Tính đến năm 2026, diện tích chè VietGAP và hữu cơ trong tỉnh đạt gần 6.700 ha, trong đó diện tích chè hữu cơ đạt hơn 186 ha. Tỉnh đã triển khai các mô hình hợp tác xã sản xuất chè hữu cơ tại các HTX Tâm Trà Việt, Tiến Yên, Hảo Đạt, Văn Hán, La Bằng, Nhật Thức và đang mở rộng quy mô sang các HTX liên kết khác. Những kết quả này cho thấy sự phát triển của ngành chè Thái Nguyên trong quá trình kết hợp tri thức truyền thống với các phương thức sản xuất hiện đại, hướng tới nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển bền vững.
Bên cạnh giá trị kinh tế, cây chè Thái Nguyên còn có bề dày lịch sử được phản ánh qua các thư tịch và những chứng cứ thực địa. Hiện nay, tỉnh vẫn bảo lưu được nhiều quần thể chè cổ thụ có giá trị. Năm 2011, các nhà khoa học đã khảo sát và phát hiện khoảng 30 cây chè cổ thụ tại khu vực đỉnh núi Bóng, xã Đức Lương. Gần đây, một quần thể gần 20 cây chè cổ thụ đã được tìm thấy tại sườn đông dãy núi Tam Đảo, thuộc xã La Bằng. Đặc biệt, xã Đồng Phúc ở phía bắc tỉnh sở hữu quần thể 740 cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi, trong đó có 12 cây đã được chính thức ghi danh vào Danh mục Cây Di sản Việt Nam. Những dữ liệu này góp phần khẳng định cây chè trên đất Thái Nguyên có lịch sử lâu đời, gắn bó mật thiết với điều kiện sinh thái và đời sống của cộng đồng cư dân địa phương.

Thu hái chè ở vườn chè cổ thụ Đồng Phúc
Giai đoạn sau năm 1954 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành chè dưới sự định hướng của Nhà nước thông qua việc kiến thiết hệ thống nông trường quốc doanh và mô hình hợp tác xã chuyên canh chè. Diện tích canh tác được mở rộng không ngừng, sản phẩm chè Thái Nguyên không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn vươn ra thị trường xuất khẩu, đưa cây chè trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế nông nghiệp địa phương. Cơ cấu giống chè cũng được đa dạng hóa; bên cạnh nguồn gen chè Trung du cổ, nhiều giống chè mới được đưa vào canh tác nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng.
Trong quá trình phát triển ấy, tri thức trồng và chế biến chè được hình thành, lưu giữ và trao truyền chủ yếu thông qua thực hành trực tiếp, từ phạm vi gia đình lan tỏa ra cộng đồng qua nhiều thế hệ. Chủ thể thực hành di sản là cộng đồng cư dân các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay... sinh sống tại các vùng chè Thái Nguyên. Toàn tỉnh có khoảng 150.000 lao động trực tiếp nắm giữ và thực hành hệ thống quy trình, kỹ năng, bí quyết về giống, canh tác và chế biến chè. Đây là nguồn lực quan trọng bảo đảm sức sống của di sản trong đời sống đương đại.
Trong số những người nắm giữ và thực hành tri thức, có 22 nghệ nhân ở độ tuổi từ 40 đến 75 đã được phỏng vấn và cam kết gìn giữ di sản. Họ không chỉ lưu giữ những kinh nghiệm, kỹ năng và bí quyết nghề nghiệp mà còn góp phần duy trì phương thức trao truyền tri thức truyền thống, bảo đảm sự tiếp nối giữa các thế hệ trong cộng đồng.
Nhận thức rõ giá trị của di sản, tỉnh Thái Nguyên đã triển khai các bước xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị đưa Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 14/9/2026, UBND tỉnh đã có Tờ trình số 343/TTr-UBND trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị đưa hồ sơ khoa học Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 24/9/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3014/QĐ-UBND về việc phê duyệt bổ sung danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Thái Nguyên, trong đó có Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên. Đây là những bước đi quan trọng nhằm nhận diện, tư liệu hóa và tạo cơ sở cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

Lễ Công bố quyết định làng nghề truyền thống xã Đồng Phúc
Hướng tới Festival Trà Thái Nguyên năm 2026, nếu Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, hệ thống “Ngũ đại danh trà” gồm Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc và Đồng Phúc sẽ có thêm điều kiện để phát huy giá trị, trở thành những không gian văn hóa chè đa dạng, phản ánh năng lực sáng tạo của cộng đồng. Tại đây, các hoạt động sản xuất, chế biến và thưởng thức chè gắn với cảnh quan sinh thái, đời sống văn hóa và tập quán của người dân sẽ tạo nên những sản phẩm đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp và quảng bá văn hóa trà.
Tại Đồng Phúc, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ sinh trưởng gắn bó với không gian bản làng của người Dao, Tày, Kinh, tạo nên cảnh quan văn hóa đặc sắc, đồng thời mở ra tiềm năng phát triển kinh tế địa phương. Việc kết nối bảo tồn quần thể chè cổ thụ với gìn giữ tri thức bản địa, phát triển sản xuất và du lịch cộng đồng sẽ góp phần nâng cao giá trị của di sản, tạo sinh kế và khuyến khích cộng đồng tiếp tục gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Phụ nữ người Dao (La Bằng) đang pha trà
Để hiện thực hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và khát vọng của cộng đồng chủ thể di sản, đưa cây chè trở thành “cây trồng tỷ USD”, mang lại giá trị trên 25.000 tỷ đồng vào năm 2030, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 03/02/2025, tạo nền tảng chính sách cho chu kỳ phát triển mới của ngành chè gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Có thể khẳng định, tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên không chỉ là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ mà còn là thành tố quan trọng trong bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương. Việc nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị di sản sẽ góp phần khẳng định vị thế của chè Thái Nguyên, kết nối giá trị truyền thống với phát triển kinh tế hiện đại, đồng thời tạo động lực để văn hóa trà tiếp tục lan tỏa trong đời sống xã hội và trên trường quốc tế.