image banner
Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam
Lượt xem: 0
Ngày 14/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 282/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

Nghị định được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia phát triển văn hóa Việt Nam và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời xác định việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội trong lĩnh vực văn hóa phải bảo đảm phù hợp với Nghị quyết số 28/2026/QH16, thống nhất với quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; đồng thời gắn trách nhiệm giải trình, hiệu quả trong quản lý nhà nước và tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và toàn xã hội.

Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định là quy định cụ thể về cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa. Theo Nghị định, cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa là nơi tập trung các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, nhóm sáng tạo, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất, cơ sở đào tạo, cơ sở thực hành nghề và các chủ thể khác được liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm, dịch vụ trong các ngành công nghiệp văn hóa. Khu công nghiệp sáng tạo văn hóa là khu chức năng có quy mô lớn, tập trung các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có hạ tầng đồng bộ và các phân khu chức năng phục vụ sáng tạo, sản xuất sản phẩm văn hóa ở quy mô công nghiệp. 

Các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa có chức năng cung cấp mặt bằng, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số và không gian sáng tạo; kết nối nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, sản xuất, phân phối và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, ươm tạo tài năng và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về pháp lý, sở hữu trí tuệ, thiết kế, truyền thông, marketing và xúc tiến thương mại. Đồng thời, các mô hình này có thể tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, tuần lễ sáng tạo, hội chợ, triển lãm, biểu diễn và kết hợp phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch văn hóa, ẩm thực, giải trí, giáo dục trải nghiệm. Theo quy định, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa có diện tích tối thiểu 05 ha; cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa có diện tích từ 02 ha đến dưới 05 ha; tổ hợp sáng tạo văn hóa có diện tích sàn sử dụng tối thiểu 2.000 m² đối với tòa nhà, công trình cải tạo, tái thiết hoặc chuyển đổi công năng. Các tổ chức đề xuất phải bảo đảm phương án đầu tư, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng số; phương án quản lý, vận hành; nguồn lực tài chính hợp pháp, trong đó vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 15% tổng vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu về môi trường, phòng cháy, chữa cháy, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sở hữu trí tuệ và bảo vệ di sản văn hóa.

Đối với đô thị di sản văn hoá, Nghị định quy định tiêu chí, trình tự lựa chọn địa phương thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa, nhằm kết hợp bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển kinh tế - xã hội, du lịch và công nghiệp văn hóa. Việc thí điểm gắn với yêu cầu bảo vệ, phát huy giá trị di sản, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp và huy động các nguồn lực cho công tác bảo tồn, phát triển. Địa phương được lựa chọn thí điểm có trách nhiệm xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án và cơ chế phù hợp; bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển đô thị, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và phát huy các giá trị văn hóa trong phát triển bền vững.

Nghị định quy định cơ chế đặt hàng và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước. Việc đặt hàng, giao nhiệm vụ được thực hiện trên cơ sở yêu cầu về nội dung, chất lượng và sản phẩm đầu ra. Cơ chế khoán chi tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sáng tạo chủ động sử dụng kinh phí trong phạm vi dự toán được giao, đồng thời chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và kết quả sản phẩm. Việc nghiệm thu, thanh quyết toán căn cứ vào sản phẩm cuối cùng và các điều kiện đã được cam kết, bảo đảm sử dụng ngân sách nhà nước đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

Đối với hoạt động quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm, thị trường công nghiệp văn hóa, cần chú trọng đưa sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam đến thị trường trong nước và quốc tế. Các hoạt động được quan tâm gồm quảng bá, giới thiệu sản phẩm văn hóa; tham gia các sự kiện, hội chợ, triển lãm, chương trình xúc tiến; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường và xuất khẩu sản phẩm văn hóa tiêu biểu. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tăng cường quảng bá hình ảnh, văn hóa Việt Nam.

Đối với Quỹ Văn hóa, nghệ thuật, nghị định quy định thí điểm thành lập ở Trung ương và một số địa phương. Quỹ nhằm huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực hợp pháp để hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật và các chương trình, dự án có giá trị, góp phần thúc đẩy sáng tạo và phát triển văn hóa. Quỹ Văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương do Thủ tướng Chính phủ thành lập; Quỹ ở địa phương do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập theo quy định. Thời gian thực hiện thí điểm là 05 năm kể từ thời điểm thành lập, tối đa đến hết năm 2035.

Bên cạnh đó, Nghị định đã đưa ra một số cơ chế, chính sách đột phá khác trong lĩnh vực văn hoá, cụ thể như: miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê nhà, tài sản gắn liền với đất là tài sản công; bố trí kinh phí kịp thời đưa bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa, có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước; ưu tiên sử dụng dịch vụ và đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất tại đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống; bảo đảm thời lượng phát sóng các chương trình văn hóa, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống trên hệ thống phát thanh, truyền hình; chính sách tuyển dụng đối với tài năng và nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao; đào tạo lại cho viên chức thuộc các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, xiếc, múa khi hết tuổi nghề; hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số về văn hóa; giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản văn hóa; chính sách ưu tiên phát triển tài năng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện số hóa di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt.

Nghị định số 282/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 14/7/2026.

282_2026_ND-CP_14072026-signed.pdf


Thảo Phương
image advertisement
  
image advertisement
 
image advertisement
image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH THÁI NGUYÊN

Chịu trách nhiệm nội dung: Hà Thị Bích Hồng - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Địa chỉ: Số 19, Phố Nhị Quý, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại: 0208.3855506 Fax: 0208.3855506 - Email: sovhttdl@thainguyen.gov.vn