Lễ đón nhận bằng xếp hàng di tích cấp tỉnh đình Cúc Lùng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương và khai mạc Lễ hội văn hóa, thể thao đình Cúc Lùng năm 2024
Lễ đón nhận bằng xếp hàng di tích cấp tỉnh đình Cúc Lùng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương và khai mạc Lễ hội văn hóa, thể thao đình Cúc Lùng năm 2024
Ngày 21/02/2024, UBND xã Phú Đô tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh đình Cúc Lùng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương và khai mạc Lễ hội văn hóa, thể thao đình Cúc Lùng năm 2024. Dự Lễ đón nhận có các đồng chí: Vũ Thị Thu Hường, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đồng chí Nguyễn Thúy Hằng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lương cùng các đồng chí lãnh đạo phòng chuyên môn huyện, lãnh đạo các xã lân cận và đông đảo Nhân dân.

Đồng chí Vũ Thị Thu Hường, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh
trao Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh đình Cúc Lùng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương
Đình Cúc Lùng thuộc địa phận xóm Cúc Lùng, xã Phú Đô, huyện Phú Lương. Trước năm 1945, đình Cúc Lùng thuộc xã Phú Đô, tổng Tức Tranh, huyện Phú Lương. Theo bản kê khai Thần tích - Thần sắc xã Phú Đô, tổng Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên do Lý trưởng xã Phú Đô, tổng Tức Tranh khai năm 1938 thì đình Cúc Lùng thờ thành hoàng làng “Cao Sơn Quý Minh Đại vương Tôn Kiêu sơn thần” - Thượng đẳng thần. Các cụ cao niên trong làng cho biết vị Cao Sơn Quý Minh Đại vương Tôn Kiêu sơn thần chính là danh tướng Dương Tự Minh - Thủ lĩnh phủ Phú Lương thời nhà Lý (TK XII). Sau này, các triều đại phong kiến nhà Lê, nhà Nguyễn ban sắc phong Dương Tự Minh là “Thượng đẳng thần”, “Uy Viễn đôn tĩnh Cao Sơn Quảng độ chi thần”, “Cao Sơn Quý Minh đại nhân thần” .
Hiện nay, chưa tìm được tài liệu xác định thời gian khởi dựng của đình Cúc Lùng. Người cao tuổi địa phương kể lại: “Trước năm 1871, xóm đã có những người Nùng ở Lạng Sơn đến khai hoang lập nghiệp nhưng về sau họ cũng chuyển đến nơi khác sinh sống. Đến năm 1871, có 4 gia đình gồm Hầu Văn Tài, Trần Văn Cói, Tý Văn Dậu, Hầu Văn Trứ đã đến đây sinh sống lâu dần trở thành cư dân bản địa. Khi các ông này đến đây thì đình làng đã có, họ tiếp tục tu sửa và thực hiện sinh hoạt từ đó đến nay”. Trước kia, đình có 4 cột cái to làm bằng gỗ xoan, được chia thành 3 gian, thượng cung làm bằng gỗ và có cầu thang “độc mộc” đi lên. Đình có hệ thống sàn ở hai bên để quan khách ngồi dự lễ, khi quan viên hành lễ sẽ thực hiện ở gian giữa.
Từ năm 1871 đến nay, đình đã trải qua 3 lần đại trùng tu vào năm 1968, năm 1991 và gần đây nhất là năm 2007. Đình được tu sửa theo lối truyền thống, bố cục mặt bằng kiểu chữ Nhất, tường xây gạch, bộ khung mái kiểu vì kèo. Đình có hướng chính là hướng nam trông ra dãy núi “Tời Pho”, phía sau đình là Núi Kính (nay gọi là Núi Hích) và dòng sông Cầu uốn lượn xung quanh.
Người Sán Chay nơi đây có quan niệm tất cả các cây cối, sông, suối đều là thần linh và có vai trò rất quan trọng chi phối đời sống sinh hoạt và sản xuất. Chính vì vậy, cộng đồng nơi đây đã xây dựng nên những ngôi đình, miếu làm nơi thờ các thánh, thần và nhân dân địa phương đến thực hành tín ngưỡng và để tạ ơn các vị. Vì vậy, cùng với thờ danh tướng Dương Tự Minh, đình Cúc Lùng thờ các vị thần là: Ông Công Hà Bá; Thần Nông, Thổ kỳ; Cây đa bóng mát đại nhân thần và các vị tướng…
Đình Cúc Lùng là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương. Trong một năm, đình tổ chức các kỳ lễ như sau: Lễ hội đình: ngày 12 tháng Giêng; Lễ Cầu an: ngày 2 tháng 2 Âm lịch; Lễ Cầu mùa: ngày 2 tháng 6 Âm lịch. Trong thời kỳ chiến tranh các hoạt động lễ hội đình bị gián đoạn một thời gian do đình bị cháy. Sau khi đình được khôi phục thì nhân dân trong vùng tiếp tục tổ chức lễ hội. Người dân tin rằng khi tổ chức lễ hội bản làng được yên bình, mọi việc được thuận lợi.
Đình Cúc Lùng cùng với Đền Đuổm, di tích danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng quốc gia và hệ thống các di tích thờ Dương Tự Minh trở thành một chuỗi những điểm đến du lịch tìm hiểu về văn hoá, lịch sử, phong tục tập quán đặc trưng của người dân nơi đây góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.